môi trường công nghệ ảnh hưởng tới doanh nghiệp
CB500F 2022 tiếp tục được cải tiến trang bị công nghệ và tiện ích cao cấp bao gồm phuộc trước hành trình ngược Showa 4 1mm SFF-BP và hệ thống phanh đĩa đôi phía trước cùng ngàm phanh 4 piston. Bộ vành 17 inch 5 chấu với trọng lượng nhẹ cho khả năng phản hồi lanh lẹ. Hệ thống chống bó cứng phanh (ABS) là trang
Môi trường chính trị pháp luật có ảnh hưởng lớn tới các hoạt động Marketing của doanh nghiệp. Môi trường chính trị pháp luật bao gồm hệ thống luật và các văn bản dưới luật, các công cụ, chính sách nhà nước, các cơ quan pháp luật, các cơ chế điều hành của Nhà
2.1.Tác động của môi trường vi mô tới hoạt động Marketing của Unilever Việt Nam .8. 2.1.1.Người cung ứng .8. 2.1.3.Doanh nghiệp 11. 2.1.4.Các trung gian Marketing .14 đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Phân tích môi trường Marketing vi mô và Marketing vĩ mô ảnh hưởng đến hoạt
Yếu tố môi trường đề cập đến ảnh hưởng b ên ngoài đối với một doanh nghiệp mà nó có kiểm soát hạn chế hơn nhưng nó phải xem xét như một phần của kế hoạch chiến lược. Thông thường, các yếu tố môi trường giải quyết bởi các công ty phù hợp với gồm bốn loại - xã hội, pháp lý, chính trị và kinh tế.
1. Cơ sở vật chất. Điều kiện làm việc có ảnh hưởng rất lớn đến tâm trạng và hiệu quả công việc của nhân viên trong doanh nghiệp. Nếu như điều kiện làm việc tốt thì nhân viên sẽ cảm thấy thoải mái, vui vẻ, hiệu quả làm việc cũng sẽ cao
Partnersuche Kostenlos Ohne Registrierung Ab 50. Môi trường công nghệ tiếng Anh Technological environment gồm có những yếu tố gây ảnh hưởng tác động đến công nghệ mới, phát minh sáng tạo loại sản phẩm và thời cơ thị trường mới. Công nghệ và sự tăng trưởng của công nghệ tác động ảnh hưởng can đảm và mạnh mẽ đến những doanh nghiệp .Nội dung chính Môi trường công nghệ Technological environmentTác động của môi trường công nghệ đến doanh nghiệpYêu cầu đối với doanh nghiệp10-09-2019Môi trường vĩ mô Macro environment là gì? Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô10-09-2019Khách hàng Consumers là ai? Khách hàng có ý nghĩa như thế nào đối với doanh nghiệp?10-09-2019Nhà cung cấp Suppliers là ai? Nhà cung cấp có ý nghĩa như thế nào đối với doanh nghiệp?10-09-2019Môi trường vi mô Micro environment là gì? Các yếu tố cơ bản của môi trường vi mô20-08-2019Môi trường kinh tế Economic Environment là gì? Hình minh họa. Nguồn shaneosullivanidMôi trường công nghệ Technological environmentĐịnh nghĩaMôi trường công nghệ trong tiếng Anh là Technological trường công nghệ bao gồm các yếu tố gây tác động đến công nghệ mới, sáng tạo sản phẩm và cơ hội thị trường xét– Đây là tác nhân có tác động ảnh hưởng mạnh, trực tiếp đến doanh nghiệp. Các yếu tố công nghệ thường được biểu lộ như những giải pháp sản xuất mới, kĩ thuật mới, vật tư mới, thiết bị sản xuất, những tuyệt kỹ, những ý tưởng sáng tạo, những ứng dụng ứng dụng ….- Trong môi trường kinh doanh thương mại nhiều dịch chuyển như lúc bấy giờ, những loại sản phẩm, dịch vụ của những doanh nghiệp đều tương quan đến công nghệ mặc dầu mức độ quyết định hành động, kết nối, tương quan hoàn toàn có thể khác nhau .Tác động của môi trường công nghệ đến doanh nghiệpCông nghệ và sự tăng trưởng của công nghệ tác động ảnh hưởng can đảm và mạnh mẽ đến quy trình sản xuất, kinh doanh thương mại của những doanh nghiệp. Ở rất nhiều phương diện khác nhau, nhưng khi nghiên cứu và phân tích thường nhìn nhận ở hai góc nhìn tác động ảnh hưởng + Thứ nhất, công nghệ và sự tăng trưởng của công nghệ đã ảnh hưởng tác động can đảm và mạnh mẽ đến những doanh nghiệp sử dụng những chiêu thức sản xuất tiên tiến và phát triển, những qui trình kĩ thuật tân tiến, những thiết bị tiên tiến và phát triển và những vật tư có ích mới để sản xuất ra những mẫu sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao hơn đáp ứng cho xã hội .+ Thứ hai, công nghệ và sự phát triển công nghệ có thể ứng dụng để thực thi các công việc ngoài sản xuất chính của doanh nghiệp làm cho năng suất được cải thiện, hiệu quả kinh doanh cao dụ Công nghệ phần mềm quản lí, phân tích số liệu, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lí doanh nghiệp …Yêu cầu đối với doanh nghiệpĐể quản trị mạng lưới hệ thống công nghệ đạt hiệu suất cao, khi tiếp đón, ứng dụng công nghệ mới, doanh nghiệp cần phải chăm sóc đến một số ít nội dung - Sự tương thích của công nghệ với môi trường, với điều kiện kèm theo trong thực tiễn của doanh nghiệp .- Tính đồng nhất của công nghệ sản xuất và công nghệ quản lí .- Năng lực góp vốn đầu tư kinh tế tài chính và nguồn kêu gọi vốn góp vốn đầu tư– Hạ tầng cơ sở để tiếp nhận công nghệ nhà, xưởng, thiết bị khác …– Lực lượng lao động được huấn luyện và đào tạo để hoàn toàn có thể làm chủ công nghệ sản xuấtTài liệu tham khảo Giáo trình Quản trị kinh doanh, NXB Tài chínhMôi trường vĩ mô Macro environment là gì ? Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô 10-09-2019 Nhà phân phối Suppliers là ai ? Nhà cung ứng có ý nghĩa như thế nào so với doanh nghiệp ? 10-09-2019 Môi trường vi mô Micro environment là gì ? Các yếu tố cơ bản của môi trường vi mô
Công nghệ đang trở thành một yếu tố không thể thiếu trong mọi doanh nghiệp. Trong suốt hai thập kỷ qua, thế giới đã đánh dấu sự gia tăng đáng kể trong việc ứng dụng công nghệ trong hoạt động kinh doanh. Thông qua sự tiến bộ của công nghệ, thiết bị phần cứng và internet, các doanh nghiệp nhỏ cũng dần có những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế so với trước đây. Công nghệ giúp các doanh nghiệp dễ dàng xử lý các hoạt động kinh doanh hàng ngày chính xác và ổn định. Nó mang lại những lợi ích hữu hình và vô hình cho mọi doanh nghiệp, đặc biệt đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Dưới đây là những lợi ích điển hình mà công nghệ có thể giúp cho doanh nghiệp của bạn tăng trưởng đều đặn với chi phí tối Xây dựng thương hiệu tốt hơnỨng dụng các giải pháp công nghệ hiện đại giúp cho doanh nghiệp tiếp cận khách hàng mục tiêu tốt hơn đáng kể so với trước đây. Điều này đặc biệt đúng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, những doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc giành thị trường ở giai đoạn đầu. Việc xây dựng giải pháp công nghệ là một cách tiếp cận rất hiệu quả, tối ưu chi phí nhưng vẫn có thể tối đa hóa khả năng nhận biết thương hiệu doanh nghiệp của bạn, thay vì dựa vào các phương pháp tiếp thị cổ điển, truyền thống, vốn tiêu tốn rất nhiều ngân sách. Tất nhiên, mọi thứ đều có giá trị của nó, chúng ta cũng không nên đánh giá thấp lợi ích của các phương thức tiếp thị truyền thống. Nhưng những thứ như quảng cáo kỹ thuật số digital marketing chắc chắn không nên bị đánh giá thấp vì tiềm năng của chúng ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp ngày nay đang dần trở nên lớn hơn bao giờ Xây dựng dữ liệu khách hàng tiềm năng và chăm sóc khách hàng tốt hơnThị trường cạnh tranh cùng với sự phát triển của công nghệ khiến cho việc xây dựng một cơ sở dữ liệu khách hàng tiềm năng là cấp bách hơn cả, đặc biệt đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn không có ngân sách nhiều để chạy những hoạt động marketing để hớt váng khách hàng. Việc xây dựng một ứng dụng riêng cho thương hiệu hoặc doanh nghiệp của mình sẽ giúp các doanh nghiệp quản lý tốt cơ sở dữ liệu khách hàng của mình và cải thiện trải nghiệm khách hàng đối với sản phẩm và dịch vụ thông qua các hoạt động chăm sóc khách hàng, hậu mãi ngay trên ứng dụng với chi phí tối ưu đến mức tối đa. Ngoài ra, việc tích hợp các mạng xã hội vào các hoạt động tiếp thị của công ty chắc chắn là điều các nhà quản trị chiến lược truyền thông và tiếp thị cân nhắc thực hiện sớm nhất có Giảm thiểu chi phí trên diện rộngCó nhiều ý nghĩ sai lầm là việc ứng dụng công nghệ hoặc số hóa thường sẽ rất tốn kém. Trong khi thực tế lại hoàn toàn trái ngược, với những giải pháp và dịch vụ phù hợp sẽ giúp doanh nghiêp tối ưu và tiết kiệm chi phí rất nhiều trong chiến lược kinh doanh trung và dài hạn. Hiện nay có rất nhiều công cụ kỹ thuật số dưới dạng SaaS giúp doanh nghiệp có thể thu được rất nhiều lợi ích mà vẫn giữ ngân sách trong tầm kiểm soát của mình. Ví dụ các giải pháp như AI có thể phân tích toàn bộ lịch sử tài chính của bạn, gợi ý các chiến lược kinh doanh phù hợp thông qua phân tích biểu đồ và số liệu mà thậm chí chính bạn cũng chưa nhìn thấy, bất kể bạn có kinh nghiệm như thế nào về tài chính. Điều này cho phép doanh nghiệp khai thác tối đa những bộ phận đang hoạt động hiệu quả, và cắt giảm chi phí ở những lĩnh vực khác đang tiêu tốn tài nguyên doanh thể bạn quan tâmHội nghị Thượng đỉnh Năng lượng Thế giới 2023Thời tiết như thế nào ở Toronto vào Tháng 7 năm 2023 tính bằng độ C?Zach Bryan có đến Úc năm 2023 khôngNăm học 2023 bắt đầu khi nào?Ronaldo sẽ đến đội nào vào năm 2024?4/ Dễ dàng mở rộng quy mô và quản lý dự án nâng caoViẹc ứng dụng thành công công nghệ vào hoạt động doanh nghiệp giúp việc mở rộng mô hình kinh doanh dễ dàng hơn. Các nhà hoạch định chiến lược gần như có những báo cáo, số liệu phân tích tức thời từ các phòng ban liên quan để có thể ra quyết định và triển khai nhanh chóng. Đồng thời giúp cho việc quản lý dự án thực hiện dễ dàng hơn nhiều từ sự trợ giúp của các phần mềm quản lý dự án. Không chỉ vậy, bạn cũng sẽ luôn có cái nhìn tổng quan về mọi hoạt động của người và của, những tài sản doanh nghiệp, hiện đang đóng góp bao nhiêu vào hoạt động kinh doanh của tổ chức. Điều này rất quan trọng đối với các công ty vừa và nhỏ, nơi tối ưu hóa liên tục là rất quan Cải thiện bảo mậtBảo mật, tiếp tục là một vấn đề cấp bách đối với nhiều công ty và điều này không chỉ là vấn đề đối với những doanh nghiệp lớn trên thị trường. Các doanh nghiệp nhỏ cũng cần phải cẩn thận về tình trạng an ninh của họ. Hay có thể nói là họ cần phải chú ý hơn nữa. Một công ty lớn ít nhất họ vẫn có đủ khả năng về tài nguyên tài chính, bộ phận xử lý khủng hoảng, pháp lý... để đứng vững sau một vụ tấn công an ninh mạng lớn. Mặt khác, đối với một doanh nghiệp nhỏ hơn, điều này có thể trở thành thảm họa và có thể là dấu chấm hếu đối với hoạt động kinh doanh của công ty. Không thiếu các trường hợp liên quan đến các công ty vừa và nhỏ đã bị tấn công và xâm phạm dữ liệu trên quy mô lớn lớn khiến thông tin bị rò rỉ theo nhiều cách, gây tổn thất nặng nề đến doanh kếtĐó là những lợi ích tiêu biểu khi doanh nghiệp ứng dụng công nghệ vào hoạt động kinh doanh của mình. Tùy thuộc vào mô hình và quy mô thực tế của doanh nghiệp, sử dụng đúng công cụ cần thiết sẽ mang lại nhiều kết quả khác biệt, cải thiện các chỉ số mà chính bạn cũng không thể ngờ. Câu hỏi được đặt ra là giữa một rừng công nghệ, với hàng trăm nhà cung cấp nội ngoại như hiện nay, đâu mới là công cụ thật sự cần thiết cho doanh nghiệp, đặc biệt đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ với ngân sách giới hạn?Tại ODOTECH, chúng tôi, những chuyên gia từ ngành tài chính kết hợp với đội ngũ kỹ thuật chuyên nghiệp, luôn lắng nghe và thấu hiểu những vấn đề các doanh nghiệp đang gặp phải và tư vấn những giải pháp chuyển đổi số digital transformation phù hợp nhất, với chi phí tối ưu nhất, nhằm cải thiện các chỉ số doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tăng trưởng đều đặn trong ngắn và dài hạn. Với hơn 10 năm trong ngành, ODOTECH vinh dự được là đối tác tư vấn công nghệ chiến lược cho các doanh nghiệp lớn như Mega Market, Saigontourist, Điện máy Thiên Hòa, TiNi World, nơi chúng tôi chuyên cung cấp các giải pháp xây dựng ứng dụng OEM cho thương hiệu, xây dựng giải pháp quản lý đặt hàng và giao tiếp, chương trình khách hàng thân thiết, và các ứng dụng quản lý để bị bỏ lại phía sau, hãy liên hệ ngay hôm nay và để chúng tôi đồng hành với sự tăng trưởng của doanh nghiệp thông tin chi tiết vui lòng liên hệAnh Phan AndyBusiness Development Manager at ODOTECH0966226722 - Công nghệ của doanh nghiệp phản ánh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh. Công nghệ ngày nay là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với một doanh nghiệp. Nhờ có công nghệ cao, sản phẩm của doanh nghiệp có được lợi thế cạnh tranh trên thị trường nên tiêu thụ với khối lượng lớn hơn, bán với mức giá cao hơn và khả năng thu được lợi nhuận cao là rất khả quan. Công nghệ cuả doanh nghiệp là một trong các yếu tố quyết định khả năng thâm nhập thị trường của sản phẩm cũng như có ảnh hưởng lớn đến khả năng xây dựng lòng trung thành của khách hàng. Khả năng nghiên cứu và phát triển công nghệ cũng như khả năng cập nhật và ứng dụng công nghệ mới làm cho doanh nghiệp có thể nâng cao được lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp theo từng thời kỳ phù hợp với sự biến động của trình độ tiêu dùng của thị trường. Đây cũng là một trong các yếu tố được xem xét để đánh giá khả năng đổi mới và cải tiến sản phẩm cũng như khả năng phát triển sản phẩm mới trong một doanh nghiệp. Tất cả chúng ta đều biết rằng bất kỳ sản phẩm nào cũng sẽ lỗi thời và phải loại bỏ để nhường chỗ cho các sản phẩm mới phù hợp hơn. Nếu doanh nghiệp không có khả năng cải tiến và phát triển sản phẩm mới thì con đường phát triển bền vững của doanh nghiệp cũng coi như bị chặn đứng. Công nghệ ngày nay được hiểu theo nghĩa rộng chứ không chỉ hiểu công nghệ là dây chuyền sản xuất, máy móc thiết bị. Trong phạm vi của nó, công nghệ còn bao gồm cả con người. Do đó, chiến lược nâng cấp công nghệ mới của doanh nghiệp phải đi liền với các chiến lược về con người, chiến lược đào tạo và tái đào tạo người lao động. Các yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện thông qua hệ thống các chỉ tiêu + Số lượng bằng phát minh sáng chế, các bí quyết kỹ thuật mà doanh nghiệp là chủ sở hữu + Trình độ công nghệ chung của doanh nghiệp, phản ánh trên cơ sở trình độ công nghệ doanh nghiệp đang áp dụng + Các chiến lược phát triển công nghệ của doanh nghiệp trong thời gian tới + Năng lực của doanh nghiệp trong hoạt động nghiên cứu và phát triển R&D….. + Ngân sách của doanh nghiệp dành cho hoạt động nghiên cứu và phát triển R&D….. + Hoạt động xuất nhập khẩu công nghệ hàng năm. Ngày nay, công nghệ của doanh nghiệp trở thành yếu tố vô cùng quan trọng, nhiều khi quyết định cả việc sản phẩm của doanh nghiệp có khả năng thâm nhập vào thị trường nước ngoài hay không. Ví dụ như EU qui định sản phẩm nhập khẩu vào EU phải được trên dây chuyền công nghệ có trình độ tương đồng với công nghệ của EU. Vấn đề công nghệ là vấn đề khó với các doanh nghiệp Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt Nam chuyển qua cơ chế thị trường đã được một thời gian, tuy nhiên, trình độ công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam rất lạc hậu, thường sau thế giới từ 2 đến 3 thế hệ. Để theo kịp trình độ công nghệ của các quốc gia trong khu vực cũng đòi hỏi nỗ lực không nhỏ từ phía nhà nước lẫn doanh nghiệp. Để nâng cao trình độ công nghệ, các doanh nghiệp Việt Nam cần xây dựng chiến lược phát triển công nghệ một các cụ thể và dài hạn, trên cơ sở đó, từng bước nâng cấp, cập nhật công nghệ mới. Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trêncông nghệ đối với môi trường makertingmôi trường công nghệ ảnh hưởng tới doanh nghiệp,
ArticlePDF AvailableAbstractBài viết nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ DNVVN của Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy logit với dữ liệu thời điểm gồm 2649 doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có các yếu tố quy mô doanh nghiệp, sự kiểm tra của cơ quan chức năng, chứng nhận chất lượng quốc tế, xuất khẩu, đổi mới sản phẩm và hỗ trợ kỹ thuật từ chính phủ ảnh hưởng tích cực đến đến việc đổi mới công nghệ, trong khi đó thì yếu tố chi phí phi chính thức ảnh hưởng tiêu cực đến việc đổi mới công nghệ. Từ kết quả nghiên cứu, một số kiến nghị được đưa ra nhằm gia tăng việc đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam. Discover the world's research25+ million members160+ million publication billion citationsJoin for freeAuthor contentAll content in this area was uploaded by Nguyen Thi Anh Van on Mar 09, 2022 Content may be subject to contentAll content in this area was uploaded by Nguyen Khac Hieu on Oct 01, 2021 Content may be subject to may be subject to copyright. Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 167 Các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam Factors affect the technology innovation at small and medium Vietnamese enterprises Nguyễn Thị Anh Vân1*, Nguyễn Khắc Hiếu1 1Khoa Kinh Tế- ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật TPHCM, Việt Nam *Tác giả liên hệ, Email anhvan DOI Ngày nhận 24/09/2019 Ngày nhận lại 16/03/2020 Duyệt đăng 07/05/2020 Từ khóa đổi mới công nghệ, doanh nghiệp vừa và nhỏ, hồi quy Logit Keywords technology innovation, Small and Medium Enterprises SMEs, Logit regression Bài viết nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ DNVVN của Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy logit với dữ liệu thời điểm gồm 2649 doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có các yếu tố quy mô doanh nghiệp, sự kiểm tra của cơ quan chức năng, chứng nhận chất lượng quốc tế, xuất khẩu, đổi mới sản phẩm và hỗ trợ kỹ thuật từ chính phủ ảnh hưởng tích cực đến đến việc đổi mới công nghệ, trong khi đó thì yếu tố chi phí phi chính thức ảnh hưởng tiêu cực đến việc đổi mới công nghệ. Từ kết quả nghiên cứu, một số kiến nghị được đưa ra nhằm gia tăng việc đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam. ABSTRACT This research focuses on factors affectting technology innovation at small and medium Vietnamese enterprises SMEs. Logit regression is used with crossectional data of 2469 small and medium Vietnammese enterprises. The results show that some factors have positive effect on technology innovation such as firm size, technical compliance inspections by government officials, international quality certification, exports, product innovation, and technical assistance of Government whereas informal cost has negative impact on technology innovation. From the results, some solutions have been suggested in order to increase technology innovation of small and medium enterprises in Vietnam. 1. Giới thiệu Hiện nay, với cuộc cách mạng công nghệ đang là mấu chốt để quyết định thành bại của nhiều doanh nghiệp. Trên thế giới, việc đổi mới công nghệ diễn ra một cách nhanh chóng và mạnh mẽ. Tuy nhiên ở Việt Nam, đặc biệt tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vấn đề đổi mới công nghệ đang là một thách thức. Theo thống kê của Bộ Khoa học và Công nghệ KH và CN cho thấy, năm 2015 cả nước có gần 600 nghìn doanh nghiệp, với hơn 90% là DNVVN và phần lớn các doanh nghiệp này đều đang sử dụng công nghệ tụt hậu so với mức trung bình của thế giới từ hai đến ba thế hệ Minh Nhat, 2015. Và theo báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 168 Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 2019 của Diễn đàn kinh tế thế giới WEF cho thấy, trình độ công nghệ của Việt Nam hiện nay đang xếp hạng 67/141 quốc gia được khảo sát. Trong khi đó việc đổi mới công nghệ có tương quan thuận đến tăng trưởng của doanh nghiệp, tức là việc đổi mới công nghệ có khả năng tăng doanh thu, lợi nhuận, và khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp UNITED NATIONS UNIVERSITY, 2015. Theo khảo sát các DNVVN cho thấy năm 2015 chỉ 4,9% các DN được khảo sát có đổi mới công nghệ UNITED NATIONS UNIVERSITY, 2015. Tại sao tỷ lệ các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam đổi mới công nghệ thấp? Các yếu tố nào ảnh hưởng đến việc đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam? Đây là những câu hỏi nghiên cứu quan trọng cần được trả lời. Tuy nhiên, các nghiên cứu về đổi mới công nghệ tại Việt Nam hầu hết chỉ mang tính thống kê và các nhận định của các chuyên gia Kim Hien, 2015; Minh Nhat, 2015; Nguyen, Vu, & Nguyen 2018, rất ít nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc đổi mới công nghệ tại DNVVN. Chính vì vậy tác giả thực hiện nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới công nghệ tại các công ty vừa và nhỏ của Việt Nam”. Nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc đổi mới công nghệ tại các DNVVN của Việt Nam, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm gia tăng hoạt động đổi mới công nghệ tại Việt Nam. 2. Cơ sở lý thuyết Các khái niệm liên quan Khái niệm liên quan đến đổi mới công nghệ Đổi mới công nghệ Theo OECD 2005, đổi mới công nghệ bao gồm các sản phẩm và quy trình mới và những thay đổi công nghệ quan trọng của sản phẩm và quy trình. Một đổi mới đã được thực hiện nếu nó đã được giới thiệu trên thị trường. Đổi mới công nghệ là không thể tránh khỏi đối với các công ty muốn phát triển và duy trì tính cạnh tranh cạnh hoặc đạt được mục tiêu thâm nhập vào thị trường mới Souitaris, 2002. Đổi mới công nghệ là việc thay thế một phần chính hay toàn bộ công nghệ đang sử dụng bằng một công nghệ khác tiến tiến hơn, hiệu quả hơn. Đổi mới công nghệ có thể nhằm tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả của quá trình sản xuất hoặc có thể nhằm tạo ra một sản phẩm, dịch vụ mới phục vụ thị trường. Theo Branscomb 2001, đổi mới công nghệ là việc thực hiện thành công trong thương mại hoặc quản lý của một ý tưởng kỹ thuật mới. Những đổi mới được phân biệt với các phát minh. Theo Frankelius 2009 đổi mới có liên quan đến, nhưng không giống như phát minh, vì đổi mới có nhiều khả năng liên quan đến việc triển khai thực tế một phát minh tức là khả năng mới / cải tiến để tạo ra tác động có ý nghĩa trong thị trường hoặc xã hội, và không phải tất cả các đổi mới đòi hỏi một phát minh Bhasin, 2012. Đổi mới công nghệ đóng một vai trò ngày càng nổi bật trong sự tăng trưởng của các nền kinh tế công nghiệp hàng đầu. Các mô hình của quá trình đổi mới công nghệ đã phát triển theo thời gian và hiện có thể tính đến nhiều yếu tố bên ngoài công ty ảnh hưởng đến khả năng đổi mới Branscomb, 2001. Theo Cancino, Paza, Ramaprasad, và Syn 2018, đổi mới công nghệ được coi là phương tiện để tối ưu hóa việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực quan trọng trong các hệ thống kinh tế xã hội-sinh học. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả sử dụng khái niệm đổi mới công nghệ là sự thay đổi trong quy trình hoặc trong công nghệ của các máy móc thiết bị. Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 169 Doanh nghiệp vừa và nhỏ DNVVN Theo nghị định số 56/2009/NĐ-CP của chính phủ, nếu doanh nghiệp có từ trên 10 đến 200 lao động là doanh nghiệp có quy mô nhỏ và doanh nghiệp có số lao động từ trên 200 đến 300 là doanh nghiệp có quy mô vừa. Định nghĩa trên áp dụng cho tất cả các ngành trừ thương mại và dịch vụ. Đối với ngành thương mại và dịch vụ, doanh nghiệp nhỏ có số lao động từ trên 10 đến 50, doanh nghiệp vừa có số lao động từ trên 50 đến 100. Trong nghiên cứu này khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa được hiểu theo định nghĩa trên. Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan Hiện nay, vấn đề đổi mới công nghệ đang được quan tâm mạnh mẽ trên thế giới, đặc biệt với sự phát triển mạng mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp Vì vậy có khá nhiều nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này. Các nghiên cứu tập trung về hai khía cạnh các động cơ của để các công ty đổi mới công nghệ và ảnh hưởng của việc đổi mới công nghệ đến công ty như doanh thu, lợi nhuận, chi phí, tính cạnh tranh.... Trong phạm vi liên quan đến đề tài, tác giả lược khảo một số nghiên cứu liên quan đến câu hỏi các yếu tố nào ảnh hướng đến việc đổi mới công nghệ trong công ty. Theo Gnyawali và Park 2009 cho rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ đối mặt với những thách thức to lớn khi cố gắng theo đuổi các đổi mới công nghệ. Chính vì vậy họ đã đưa ra một mô hình khái niệm gồm nhiều yếu tố để kích thích sự áp dụng đổi mới công nghệ cho các nhà quản lý DNVVN và các nhà hoạch định chính sách. Mô hình chỉ ra rằng sự hợp tác chiến lược tức là vừa hợp tác vừa cạnh tranh sẽ giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ có khả năng đổi mới công nghệ. Trong đó chiến lược hợp tác ngành bao gồm vòng đời sản phẩm ngắn; sự hội tụ công nghệ, chi phí nghiên cứu và phát triển cao. Tiếp theo Uzkurt, Kumar, Kimzan, và Sert 2012 nghiên cứu ảnh hưởng của sự biến động của môi trường đến sự đổi mới tại doanh nghiệp. Nhóm nghiên cứu khảo sát 156 doanh nghiệp DNVVN tại Thổ Nhỉ Kỳ. Kết quả cho thấy sự biến động về thị trường và sự biến động về công nghệ có ảnh hưởng tích cực đến đổi mới tại các doanh nghiệp DNVVN. Từ kết quả nghiên cứu một số gợi ý được đưa ra nhằm tăng cường hoạt động đổi mới tại doanh nghiệp. Tiếp theo là một nghiên cứu tại khu vực Đông Nam Á, Thong 2015 nghiên cứu một mô hình về đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp nhỏ ở Singapore. Cuộc điều tra thông qua bảng câu hỏi được tiến hành tại 166 doanh nghiệp, đối tượng trả lời là các CEO của công ty. Kết quả phân tích dữ liệu cho thấy đặc điểm tính cách của CEO tính sáng tạo, kiến thức về đổi mới; đặc điểm của đổi mới và đặc điểm của tổ chức quy mô doanh nghiệp và mức độ hiểu biết của nhân viên ảnh hưởng đến khả năng chấp nhận công nghệ. Ngược lại, đặc tính môi trường cạnh tranh không ảnh hưởng trực tiếp đến việc chấp nhận đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp nhỏ. Gần đây, Rangus và Slavec 2017 nghiên cứu xem xét việc phân quyền, khả năng hấp thu và sự tham gia của nhân viên dựa trên sáng kiến đổi mới tác động đến sự đổi mới của công ty. Nghiên cứu khảo sát 421 doanh nghiệp tại sản xuất và dịch vụ tại Slovenia. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc phân quyền có ảnh hưởng tích cực đến việc đổi mới tại doanh nghiệp. Ngoài ra việc đổi mới cũng ảnh hưởng tích cực đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Tại Việt Nam, trong cuộc cách mạng công nghiệp và sự toàn cầu hóa mạnh mẽ như hiện nay thì việc đổi mới công nghệ thực sự đang là vấn đề cấp bách đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên theo nhận định của các chuyên gia thì tỷ lệ với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam đổi mới công nghệ rất thấp. Chính vì vậy có khá nhiều đề tài phân tích về các nguyên nhân của việc hạn chế đổi mới công nghệ tại DNVVN. Ví dụ như Kim Hien 2015 cho rằng sử dụng công nghệ lạc hậu, phần lớn các doanh nghiệp của nước ta mới chỉ tham gia vào khâu thấp nhất trong chuỗi cung ứng là lắp ráp và gia công, cung cấp các phụ tùng thay thế, chứ chưa tham 170 Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 gia sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Lý giải về việc này, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương công bố ngày 26/05/2015 trong báo cáo điều tra Năng lực cạnh tranh và công nghiệp ở cấp độ doanh nghiệp tại Việt Nam cho thấy, trở ngại lớn nhất của doanh nghiệp phải đối mặt chính là trở ngại chính. Theo đó, có tới 90% trong tổng số doanh nghiệp được điều tra trong thời gian 4 năm cho biết do gặp khó khăn về tài chính nên họ chưa có chiến lược cải tiến công nghệ. Báo cáo điều tra cũng cho biết, một trong những lý do gây cản trở doanh nghiệp đầu tư công nghệ là do môi trường kinh doanh và điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vẫn ở trong tình trạng khó khăn. “Phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam dựa vào vốn chủ sở hữu để cải tiến công nghệ, điều đó cho thấy khả năng đầu tư của doanh nghiệp bị hạn chế nguồn vốn có sẵn, ví dụ như lợi nhuận giữ lại”, báo cáo nêu rõ. Theo Minh Nhat 2015 trích dẫn từ thống kê của Bộ Khoa học và Công nghệ KH và CN cho thấy “hiện nay cả nước có gần doanh nghiệp, với hơn 90% là DNVVN. Phần lớn đều đang sử dụng công nghệ tụt hậu so với mức trung bình của thế giới từ hai đến ba thế hệ. Trong đó có đến 76% máy móc, dây chuyền công nghệ nhập thuộc thế hệ những năm 60 - 70 của thế kỷ trước; 75% số thiết bị đã hết khấu hao; 50% thiết bị là đồ tân trang...; chỉ có 20% là nhóm ngành sử dụng công nghệ cao”. Gần đây, theo Nguyen và cộng sự 2018, DNVVN phải được coi là trung tâm của quá trình đổi mới công nghệ tại Việt Nam vì DNVVN chiếm khoảng 97% tổng số doanh nghiệp của cả nước, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm, cải thiện thu nhập cho người lao động và huy động nguồn lực cho phát triển kinh tế. Tuy nhiên các quỹ nhà nước hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các DNVVN chưa phổ biến ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Tóm lại, các nghiên cứu về đổi mới công nghệ tại Việt Nam hầu hết chỉ mang tính thống kê và các nhận định của các chuyên gia, rất ít nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc đổi mới công nghệ tại DNVVN. Đề tài này sử dụng phương pháp định lượng nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc đổi mới công nghệ tại DNVVN thông qua phân tích dữ liệu 2649 DNVVN tại Việt Nam để các nhà nghiên cứu có cái nhìn khách quan và cụ thể hơn về vấn đề này. Sau khi lược khảo các nghiên cứu trước, tác giả đề xuất đưa vào mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến việc đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ như sau Đặc điểm chủ sở hữu Theo Thong 2015 đặc điểm tính cách của CEO tính sáng tạo, kiến thức về đổi mới ảnh hướng tích cực đến đổi mới công nghệ trong khi đó tại các công ty vừa và nhỏ thì CEO thường là chủ sở hữu. Theo Divisekera và Nguyen 2018, đặc điểm chủ sở hữu là yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến việc đổi mới trong doanh nghiệp. Sarooghi, Libaers, và Burkemper 2015 cũng cho rằng sự sáng tạo của cá nhân trong tổ chức sẽ ảnh hưởng thuận đến việc đổi mới. Trong một doanh nghiệp nhỏ, chủ sở hữu thường chính là người ra quyết định, đặc điểm của chủ sở hữu là rất quan trọng trong việc xác định thái độ đổi mới của doanh nghiệp. Điều này là do phẩm chất của chủ sở hữu là các yếu tố quyết định phong cách quản lý chung của doanh nghiệp. Chính vì vậy, trong nghiên cứu này, tác giả đưa đặc điểm chủ sở hữu làm biến độc lập với các quan sát sau giới tính, trình độ học vấn, mức độ chấp nhận rủi ro và ý tưởng đổi mới sáng tạo. Từ đó nhóm tác giả đưa ra giả thuyết H1 Đặc điểm chủ sở hữu có ảnh hưởng đến việc đổi mới công nghệ tron doanh nghiệp, cụ thể Nếu trình độ học vấn chủ sở hữu càng cao thì khả năng áp dụng đổi mới công nghệ càng cao, Chủ sở hữu có nhiều ý tưởng đổi mới thì khả năng áp dụng đổi mới công nghệ càng cao và chủ sở hữu thích rủi ro thì khả năng áp dụng đổi mới công nghệ càng cao Quy mô doanh nghiệp Nhiều nghiên cứu đã khẳng định tác động của quy mô doanh Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 171 nghiệp đối với đổi mới sáng tạo. Theo Raisch và Birkinshaw 2008, các công ty lớn thường có các nguồn lực để thực hiện hiệu quả các hoạt động liên quan đến việc tạo ý tưởng và thực hiện ý tưởng, trong khi các doanh nghiệp nhỏ ít tài nguyên phải đưa ra lựa chọn và có thể không theo đuổi chiến lược để khiến công ty có thể đổi mới. Bên cạnh đó, các công ty lớn hơn có tài chính, tiếp thị tốt hơn, khả năng nghiên cứu mạnh mẽ hơn và kinh nghiệm phát triển sản phẩm / quy trình sâu hơn sẽ tạo điều kiện cho việc chuyển đổi ý tưởng sáng tạo vào các sản phẩm và quy trình mới Azadegan, Patel, & Parida, 2013; Branzei & Vertinsky, 2006. Các nghiên cứu khác đã lập luận rằng các công ty nhỏ hơn gặp bất lợi so với các công ty lớn hơn vì họ không có hệ thống hành chính phân cấp để giúp quản lý các quá trình kiến thức, hạn chế mức độ đổi mới mà họ có thể đạt được Lubatkin, Simsek, Ling, & Veiga, 2006. Từ các nghiên cứu trước, ta thấy quy mô doanh nghiệp có vai trò quan trọng đến đổi mới. Trong nghiên cứu này, quy mô doanh nghiệp được đại diện bởi các biến chi phí nghiên cứu và phát triển, doanh thu và số lượng lao động của doanh nghiệp. Từ đó nhóm tác giả đưa ra giả thuyết H2 Doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì khả năng áp dụng đổi mới công nghệ càng cao Mức độ cạnh tranh Theo Divisekera và Nguyen 2018 nghiên cứu sự đổi mới trong ngành du lịch tại Australia đã kết luận đặc điểm chủ sở hữu, cạnh tranh, quy mô công ty và môi trường là các yếu tố ảnh hướng đến đổi mới. Mức độ cạnh tranh càng cao thì khả năng doanh nghiệp cần đổi mới công nghệ càng lớn. Chính vì vậy trong nghiên cứu này, tác giả đưa biến mức độ cạnh tranh vào mô hình làm biến độc lập. Từ đó nhóm tác giả đưa ra giả thuyết H3 Doanh nghiệp có mức độ cạnh tranh càng cao thì khả năng áp dụng đổi mới công nghệ càng cao Chứng nhận chất lượng Soto-Acosta, Popa, và Martinez-Conesa 2018 nghiên cứu mô hình của đổi mới tại công DNVVN tại Tây Ban Nha. Kết quả cho thấy quản trị trí thức có ảnh hưởng quan trọng đến đổi mới. Trong đó việc thiết lập một hệ thống vận hành, các thủ tục, chuẩn hóa quy trình sẽ ảnh hướng tích cực đến việc đổi mới. Hệ thống này tương đồng với việc một doanh nghiệp có chứng nhận hệ thống chất lượng. Một doanh nghiệp có chứng nhận hệ thống chất lượng sẽ tạo ra một cơ chế quản lý tốt, từ đó thúc đẩy việc đổi mới. Chính vì vậy trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đề xuất chứng nhận chất lượng là một biến độc lập có ảnh hướng đến đổi mới công nghệ trong tổ chức. Từ đó nhóm tác giả đưa ra giả thuyết H4 Doanh nghiệp có khả năng có chứng nhận chất lượng càng cao thì khả năng áp dụng đổi mới công nghệ càng cao Chính phủ Theo Guo, Xia, Zhang, và Zhang 2018, sự hỗ trợ của chính phủ thông qua quỹ nghiên cứu và phát triển ảnh hưởng tích cực đến đổi mới tại các doanh nghiệp Trung Quốc. Jugend và cộng sự 2018 nghiên cứu tại công ty Brazil cũng kết luận sự hỗ trợ của chính phụ rất quan trọng trong việc áp dụng đổi mới. Không chỉ hỗ trợ về mặt tài chính, việc hỗ trợ về khía cạnh phi tài chính cũng rất quan trọng. Theo Liang và Liu 2018, sự hỗ trợ của chính phủ Trung Quốc trong việc thiết lập các mạng lưới hợp tác giữa các công ty đã giúp các doanh nghiệp quang điện mặt trời đổi mới công nghệ tốt hơn. Từ đó, nghiên cứu này đã đưa các yếu tố liên quan đến chính phủ làm biến độc lập với các biến quan sát là sự hỗ trợ kỹ thuật của chính phủ, số lần kiểm tra về khía cạnh kỹ thuật của các cơ chức năng, và việc có phải chi trả các chi phí phi chính thức cho các lần kiểm tra hay không. Từ đó nhóm tác giả đưa ra giả thuyết H5 Chính phủ có ảnh hưởng đến khả năng áp dụng đổi mới công nghệ , cụ thể có hỗ trợ kỹ thuật của chính phủ càng cao thì khả năng áp dụng đổi mới công nghệ càng cao, số lần kiểm 172 Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 tra về khía cạnh kỹ thuật của các cơ chức năng càng cao thì khả năng áp dụng đổi mới công nghệ càng cao, việc chi trả các chi phí phi chính thức càng thấp thì khả năng áp dụng đổi mới công nghệ càng cao Mô hình nghiên cứu Từ những nghiên cứu thực nghiệm trên ta thấy có nhiều yếu tố tác động đến việc áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng tại các doanh nghiệp. Để xác định được những yếu tố nào có tác động đến việc đổi mới công nghệ tại các DNVVN của Việt Nam, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu gồm các yếu tố đã được lược khảo ở các nghiên cứu trước như sau Mức độ cạnh tranh, Đặc điểm chủ sở hữu, Quy mô doanh nghiệp, Chứng nhận chất lượng và Chính phủ. Bên cạnh đó, sau khi phỏng vấn chuyên sâu một số chuyên gia, nghiên cứu đề xuất thêm yếu tố Xuất khẩu và Đổi mới sản phẩm, theo các chuyên gia tại các Việt Nam hiện nay, các doanh nghiệp xuất khẩu thường có xu hướng đổi mới công nghệ nhiều hơn để theo kịp với môi trường bên ngoài; và việc đổi mới công nghệ thường theo sau việc đổi mới một sản phẩm nào đó, nhằm đảm bảo đổi mới sản phẩm thành công. Vì vậy tác giả đề xuất hai yếu tố Xuất khẩu và Đổi mới sản phẩm đóng vai trò làm hai biến giải thích của mô hình. Vậy mô hình bổ sung thêm hai giả thuyết nghiên cứu sau H6 Doanh nghiệp có khả năng xuất khẩu càng cao thì khả năng áp dụng đổi mới công nghệ càng cao H7 Doanh nghiệp có khả năng đổi mới sản phẩm càng cao thì khả năng áp dụng đổi mới công nghệ càng cao Cuối cùng, mô hình nghiên cứu được đề xuất như sau Hình 1. Mô hình nghiên cứu Nguồn Tổng hợp của tác giả 3. Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu Phương pháp nghiên cứu Do biến phụ thuộc là biến định tính có hai trạng thái bao gồm có đổi mới công nghệ và không có đổi mới công nghệ nên ta có thể sử dụng mô hình hồi quy Logit hoặc Probit để phân tích dữ liệu. Các nghiên cứu thực nghiên cho thấy không có sự khác biệt lớn về kết quả hồi quy giữa mô hình Logit và Probit Gujarati, 2004. Do đó, trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy logit nhằm xác định những yếu tố có ảnh hưởng đến việc đổi mới công nghệ tại các DNVVN. Theo Gujarati 2004, mô hình hồi quy logit được trình bày như sau Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 173 1 Trong đó Pi= PrYi=1/Xi là xác suất để Yi nhận giá trị 1 với giá trị Xi cho trước hay là xác suất để doanh nghiệp có đổi mới công nghệ với các đặc điểm cho trước của doanh nghiệp. Xi là vector các biến độc lập, β1 là hằng số và β2 là vectơ các hệ số hồi quy, ui là sai số. Mô tả chi tiết cho việc mã hóa các biến số được trình bày trong bảng sau đây. Bảng 1 Giải thích các biến sử dụng trong mô hình 1 Doanh nghiệp có đổi mới công nghệ, quy trình 0 Doanh nghiệp không đổi mới công nghệ, quy trình Chi phí đầu tư nghiên cứu và phát triển, đơn vị tính triệu VNĐ Qy mô doanh nghiệp Doanh thu Đại diện bởi tổng doanh thu của doanh nghiệp năm 2014, đơn vị tính triệu VNĐ Ý tưởng đổi mới của chủ doanh nghiệp hoặc người quản lý, mức độ từ 1-5 1 Không có ý tưởng đổi mới 5 Có rất nhiều ý tưởng đổi mới Thái độ né tránh rủi ro của chủ doanh nghiệp hoặc người quản lý, mức độ từ 0-10 0 Rất sợ rủi ro 10 Rất thích rủi ro Số lần các cơ quan chức năng đi kiểm tra liên quan đến kỹ thuật trong năm 2014 Tổng số lao động trong công ty tính đến cuối năm 2014 Trình độ học vấn chủ sở hữu 1 Có trình độ trung cấp nghề trở lên 0 Không có trình độ trung cấp nghề trở xuống 1 Có cạnh tranh 0 Không có cạnh tranh 1 Doanh nghiệp là doanh nghiệp hộ gia đình 0 Các loại hình doanh nghiệp khác Chứng nhận chất lượng quốc tế 1 Doanh nghiệp có đạt giấy chứng nhận chất lượng quốc tế 0 Doanh nghiệp không đạt giấy chứng nhận chất lượng quốc tế Chứng nhận chất lượng trong nước 1 Doanh nghiệp có đạt giấy chứng nhận chất lượng trong nước 0 Doanh nghiệp không đạt giấy chứng nhận chất lượng trong nước 1 Doanh nghiệp có xuất khẩu 0 Doanh nghiệp không xuất khẩu 1 Doanh nghiệp có phải chi trả chi phí phi chính thúc 174 Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 0 Doanh nghiệp không phải chi trả chi phí phi chính thức 1 Doanh nghiệp có đổi mới sản phẩm/ dịch vụ 0 Doanh nghiệp không đổi mới sản phẩm/ dịch vụ Chính phủ có hỗ trợ kỹ thuật technical assistance trong năm 2014 cho doanh nghiệp không 1 Có hỗ trợ 0 Không hỗ trợ Nguồn Tổng hợp của tác giả Dữ liệu nghiên cứu Đề tài tiếp cận dựa vào bộ dữ liệu khảo sát DNVVN năm 2015được thu thập bởi Viện khoa học lao động và xã hội ILSSA thuộc Bộ Lao động Thương binh và Xã hội MOLISA, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương CIEM thuộc Bộ Kế hoạch & đầu tư MPI, và Khoa kinh tế DoE thuộc Đại học Copenhagen cùng Đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam. Năm 2015 là lần khảo sát thứ 6 điều tra 2 năm một lần. Trong cuộc khảo sát năm 2015 có 2649 DNNVV ngoài quốc doanh hoạt động trong lĩnh vực chế biến, chế tạo tại trên lãnh thổ Việt Nam. Đối tượng trả lời phỏng vấn là chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc là nhà quản lý. 4. Kết quả nghiên cứu Thống kê mô tả Dựa vào kết quả thống kê mô tả đối với biến phụ thuộc ta thấy, trong 2649 DNNVV được khảo sát thì có 2520 doanh nghiệp không đổi mới công nghệ chiếm 95,1%, chỉ có 129 DNNVV đổi mới công nghệ chiếm 4,9%. Hình 2. Tỷ lệ DNVVN đổi mới công nghệ Tiếp theo, Hình 3 thể hiện mối liên hệ việc chính phủ có hỗ trợ kỹ thuật và đổi mới công nghệ của doanh nghiệp. Sự hỗ trợ của chính phủ càng cao thì tỷ lệ đạt doanh nghiệp đổi mới công nghệ càng cao. Cụ thể, nếu chính phủ có hỗ trợ thì tỷ lệ đạt đổi mới công nghệ là 29,4%. Ngược lại tỷ lệ sẽ là 4,7% nếu chính phủ không hỗ trợ. Hiện tại bộ dữ liệu năm 2015 vẫn đang là bộ dữ liệu khảo sát DNVVN mới nhất được công bố. đổi mới công nghệ Có đổi mới công nghệ Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 175 Hình 3. Mối quan hệ sự hỗ trợ của chính phủ và khả năng đổi mới công nghệ Kết quả hồi quy logit Để thấy rõ hơn mối liên hệ giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập nhóm tác giả đã đi thực hiện hồi quy logit với biến phụ thuộc là khả năng đổi mới công nghệ. Chi tiết kết quả về mô hình hồi quy được trình bày sau đây. Bảng 2 Kết quả hồi quy mô hình Chi phí nghiên cứu và phát triển Quy mô doanh nghiệp Doanh thu Trình độ học vấn chủ sơ hữu Chứng nhận chất lượng quốc tế Chứng nhận chất lượng trong nước Ghi chú ký hiệu*, ** và *** đại diện cho mức ý nghĩa thống kê 10%, 5% và 1%. Nguồn Phân tích của tác giả phủ không hỗ trợ kỹ thuật Chính phủ có hỗ trợ kỹ thuậtKhông đổi mới công nghệ Có đổi mới công nghệ 176 Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 Các tác giả tiến hành dò tìm các vi phạm giả định hồi quy theo đúng kỹ thuật phân tích Logit. Cụ thể, nhóm đã kiểm định phương sai sai số thay đổi và tính chất đa cộng tuyến của mô hình. Kết quả kiểm định White cho thấy mức ý nghĩa của kiểm định ProbF>10% nên nhóm kết luận không xảy ra hiện tượng phương sai sai số thay đổi. Kết quả kiểm định đa cộng tuyến được thể hiện ở hệ số VIF ở Bảng 2. Tất cả các hệ số phóng đại VIF đều bé hơn hai nên ta có thể kết luận phương trình hồi quy không có hiện tượng đa cộng tuyến. Cuối cùng, nhóm kết luận với biến phụ thuộc là đổi mới công nghệ, các biến độc lập có ảnh hưởng bao gồm quy mô doanh nghiệp, số lần kiểm tra, chứng nhận chất lượng quốc tế, xuất khẩu, chi phí phi chính thức, đổi mới sản phẩm, hỗ trợ kỹ thuật. Thảo luận kết quả nghiên cứu Từ kết quả phân tích ta thấy, quy mô doanh nghiệp doanh thu, đổi mới sản phẩm và hỗ trợ kỹ thuật là các biến số có ảnh hưởng lớn nhất tới việc đổi mới công nghệ với mức ý nghĩa thống kê <1% trong mô hình. Kết quả này cũng tương đồng với kết quả của nhiều nghiên cứu trước. Nếu doanh nghiệp có doanh thu càng cao thì khả năng đổi mới công nghệ càng cao, điều này đã được các nhà nghiên cứu trước giải thích là các công ty lớn thường có nguồn lực về tài chính, khả năng nghiên cứu mạnh mẽ hơn, và hệ thống vận hành tốt hơn nên dễ dàng trong việc đổi mới công nghệ hơn các công ty nhỏ. Bên cạnh đó, nếu doanh nghiệp có ý định đổi mới sản phẩm thì họ thường đổi mới công nghệ phù hợp với sản phẩm chuẩn bị sản xuất. Đó là lý do tại sao đổi mới sản phẩm là một biến có ảnh hưởng lớn đến đổi mới công nghệ. Việc hỗ trợ kỹ thuật của chính phủ mang ý nghĩa quan trọng trong việc đổi mới công nghệ tại các DNVVN tại Việt Nam. Nếu chính phủ có sự hỗ trợ đối với doanh nghiệp thì DNVVN sẽ dễ dàng tiếp cận các công nghệ mới, thay đổi các công nghệ lạc hậu để có thể sản xuất ra các sản phẩm chất lượng đáp ứng nhu cầu khách hàng. Biến số tiếp theo ảnh hưởng đến khả năng đổi mới công nghệ là số lần kiểm tra về kỹ thuật của cơ quan chức năng và việc có phải chi trả chi phí phi chính thức không. Nếu số lần kiểm tra liên quan đến kỹ thuật, công nghệ của cơ quan càng nhiều thì khả năng doanh nghiệp đổi mới công nghệ càng cao, ngược lại nếu doanh nghiệp phải trả chi phí phi chính thức thì khả năng đổi mới công nghệ lại càng thấp. Kết quả này cho thấy, các chính sách kiểm tra giám sát của các cơ quan chức năng có ý nghĩa tích cực, nhằm giúp doanh nghiệp đổi mới công nghệ, tìm phương án sản xuất hiệu quả, đảm bảo môi trường làm việc cũng như chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên các chính sách này sẽ thực sự hiệu quả nếu việc kiểm tra minh bạch, công tâm và chính xác. Việc có chi trả chi phí không chính thức là rào cản để doanh nghiệp cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như đổi mới công nghệ. Cuối cùng, biến chứng nhận chất lượng quốc tế và xuất khẩu có ảnh hưởng lớn đến việc đổi mới công nghệ với mức ý nghĩa 10%. Dường như các yếu tố nước ngoài có ảnh hưởng tích cực đến đối mới công nghệ. Các doanh nghiệp xuất khẩu và doanh nghiệp có giấy chứng nhận quốc tế đều có xu hướng đổi mới công nghệ tốt hơn các doanh nghiệp còn lại. 5. Hàm ý chính sách Từ kết quả nghiên cứu ta thấy, có bảy nhân tố có ảnh hưởng đến đổi mới công nghệ tại các DNVVN. Do đó, để nâng cao khả năng đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp các nhà hoạch định chính sách có thể áp dụng các giải pháp sau. Thứ nhất, hỗ trợ của chính phủ có ảnh hưởng rất lớn đến việc doanh nghiệp có đổi mới công nghệ hay không, chính vì vậy chính phủ cần có nhiều chính sách hỗ trợ DNNVV đổi mới công nghệ dựa trên ứng dụng và chuyển giao công nghệ, làm chủ các công nghệ then chốt, nâng Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 177 cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, công cụ cải tiến năng suất, chất lượng thích hợp với DNNVV. Chính phủ có thể hỗ trợ tạo các mạng lưới liên kết chuỗi để các DNVVN có thể chia sẻ công nghệ kỹ thuật với nhau, thúc đẩy nhau đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng. Do nguồn lực có hạn nên trước hết Việt Nam có thể tập trung hỗ trợ một vài lĩnh vực trọng điểm. Ví dụ như lĩnh vực dịch vụ ăn uống, nhà hàng khách sạn và các dịch vụ du lịch. Số lượng các DNVVN hoạt động trong lĩnh vực này khá nhiều, và nhu cầu khách hàng trong lĩnh vực này ngày càng tăng. Việc đổi mới công nghệ sẽ mang lại lợi thế cạnh tranh vô cùng to lớn trong lĩnh vực đầy tiềm năng này. Thứ hai, bên cạnh việc hỗ trợ thì việc thanh tra, giám sát cũng rất quan trọng. Có nhiều chuyên gia cho rằng Việt Nam đang dẫn trở thành bãi rác công nghệ của thế giới. Những công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường khi các chính phủ nước ngoài cấm sử dụng, đã được nhập về Việt Nam. Việc nhập khẩu máy móc, công nghệ lạc hậu, phế liệu rác thải không chỉ trực tiếp đe dọa môi trường, đe dọa an ninh năng lượng, mà còn cản trở quá trình hiện đại hóa nền công nghiệp của đất nước, giảm giá trị cạnh tranh của quốc gia. Theo đánh giá của ông Phan Xuân Dũng Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội “Tốc độ đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp thời gian qua rất thấp, chưa đạt như mong muốn 10%/năm. Một số ngành, lĩnh vực như nhiệt điện, xi-măng, mía đường, luyện cán thép và khai khoáng vẫn sử dụng công nghệ lạc hậu. Chúng ta vẫn chuyển giao công nghệ thông qua mua máy móc, thiết bị phần lớn đã lạc hậu hai, ba thế hệ là chính. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta”. Còn theo ông Chu Ngọc Anh Bộ trưởng Khoa học Công nghệ đánh giá tình trạng công nghệ trong nước là “rất yếu kém”. Điều này thể hiện qua các số liệu năm 2015, Việt Nam đứng thứ 56/140 trong bảng xếp hạng cạnh tranh toàn cầu, nhưng mức độ sẵn sàng về công nghệ chỉ đứng thứ 92, mức độ hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp đứng thứ 121 và khả năng tiếp thụ công nghệ đứng thứ 112 trong số 140 quốc gia được đánh giá. Đáng lo ngại hơn, theo Bộ trưởng Chu Ngọc Anh, là chúng ta vẫn thiếu công cụ pháp lý để kiểm soát và ngăn chặn các luồng công nghệ lạc hậu được nhập vào trong nước Song Giang, 2016. Chính vì vậy việc hoàn thiện bộ khung pháp lý cũng như các quy định chặt chẽ trong việc thanh tra giám sát đổi mới công nghệ là vấn đề mà các nhà hoạch định cần quan tâm. Cuối cùng, các doanh nghiệp có chứng nhận chất lượng quốc tế thì khả năng đổi mới công nghệ càng cao, nên việc khuyến khích các DNVVN áp dụng các chứng nhận chất lượng quốc tế là một giải pháp bền vững. doanh nghiệp sẽ có một hệ thống quản lý tốt, vận hành hiệu quả giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận đổi mới công nghệ thành công hơn. Hiện nay có rất nhiều phương pháp quản lý trên thế giới mà các doanh nghiệp Việt Nam có thể áp dụng như ISO 9001, ISO 14001, ISO 22000 và ISO 27000. Tùy vào từng ngành nghề, lĩnh vực hoạt động khác nhau mà các doanh nghiệp tự lựa chọn cho mình mô hình quản lý phù hợp nhất. Hạn chế đề tài Mặc dù nghiên cứu đã đạt được một số kết quả, tuy nhiên nghiên cứu còn tồn tại một số hạn chế sau. Đề tài mới dừng lại ở việc phân tích dữ liệu thời điểm, chưa phân tích được ở dạng dữ liệu bảng để thấy được sự biến động của biến phụ thuộc theo thời gian. Đề tài chỉ mới kiểm chứng kết quả bằng mô hình hồi quy logit mà chưa so sánh được kết quả với các mô hình khác. Tác giả hy vọng sẽ khắc phục các hạn chế trên trong các nghiên cứu tiếp theo. 178 Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 Tài liệu tham khảo Azadegan, A., Patel, P. C., & Parida, V. 2013. Operational slack and venture survival. Production and Operations Management, 221, 1-18. Bhasin, K. 2012. This is the difference between “invention” and “innovation”. Retrieved July 01, 2018, from Business insider website Branscomb, L. M. 2001. Technological innovation. International Encyclopedia of the Social & Behavioral Sciences, 20015, 498-502. Branzei, O., & Vertinsky, I. 2006. Strategic pathways to product innovation capabilities in SMEs. Journal of Business Venturing, 211, 75-105. Cancino, C. A., Paza, A. I. L., Ramaprasad, A., & Syn, T. 2018. Technological innovation for sustainable growth An ontological perspective. Journal of Cleaner Production, 179, 31-41. Divisekera, S., & Nguyen, K. V. 2018. Determinants of innovation in tourism evidence from Australia. Tourism Management, 67, 157-167. Frankelius, P. 2009. Questioning two myths in innovation literature. The Journal of High Technology Management Research, 201, 40-51. Gnyawali, D. R., & Park, 2009. Co-opetition and technological innovation in small and medium-sized enterprises A multilevel conceptual model. Journal of Small Business Management, 473, 308-330. Gujarati, D. N. 2004. Basic econometrics. New York, NY McGraw-Hill. Guo, Y., Xia, X., Zhang, S., & Zhang, D. 2018. Environmental regulation, government R&D funding and green technology innovation Evidence from China provincial data. Sustainability, 104, 940. Jugend, D., Jabbour, C. J. C., Scaliza, J. A. A., Rocha, R. S., Junior, J. A. G., … Salgado, M. H. 2018. Relationships among open innovation, innovative performance, government support and firm size Comparing Brazilian firms embracing different levels of radicalism in innovation. Technovation, 74-75, 54-65. Kim Hien 2015. Đổi mới công nghệ để doanh nghiệp “cất cánh” [Innovating technology for businesses to “take off”]. Retrieved February 25, 2019, from 2015. Liang, X., & Liu, A. M. M. 2018. The evolution of government sponsored collaboration network and its impact on innovation A bibliometric analysis in the Chinese solar PV sector. Research Policy, 477, 1295-1308. Lubatkin, M. H., Simsek, Z., Ling, Y., & Veiga, J. F. 2006. Ambidexterity and performance in small-to medium-sized firms The pivotal role of top management team behavioral integration. Journal of Management, 1, 32-64. Minh Nhat 2015. Bài toán đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp [Technology innovation problem for businesses]. Retrieved February 27, 2019, from Nguyen, T. A., Vu, H. T., & Nguyen, M. T. T. 2018. Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận các quỹ đổi mới công nghệ nhà nước Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 179 [Supporting small and medium enterprises to access state technology innovation funds International experiences and lessons for Vietnam]. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN Kinh tế và Kinh doanh, 341, 15-23. OECD. 2005. Growth in services. Paper presented at the Meeting of the OECD Council at Ministerial Level, 2005. Raisch, S., & Birkinshaw, J. 2008. Organizational ambidexterity Antecedents, outcomes, and moderators. Journal of Management, 343, 375-409. Rangus, K., & Slavec, A. 2017. The interplay of decentralization, employee involvement and absorptive capacity on firms’ innovation and business performance. Technological Forecasting & Social Change, 120C, 195-203. Sarooghi, H., Libaers, D., & Burkemper, A. 2015. Examining the relationship between creativity and innovation A meta-analysis of organizational, cultural, and environmental factors. Journal of Business Venturing, 305, 714-731. Song Giang. 2016. “Bãi rác công nghệ” - không còn là cảnh báo ["Technology landfill" - no longer a warning]. Retrieved September 20, 2019, from chinhtri/item/30706102-%E2%80%9Cbai-rac-cong-nghe%E2%80% Soto-Acosta, P., Popa, S., & Martinez-Conesa, I. 2018. Information technology, knowledge management and environmental dynamism as drivers of innovation ambidexterity A study in SMEs. Journal of Knowledge Management, 224, 824-849. Souitaris, V. 2002. Technological trajectories as moderators of firm-level determinants of innovation. Research Policy, 316, 877-898. Thong, J. Y. L. 2015. An integrated model of information systems adoption in small businesses. Journal of Management Information Systems, 154, 187-214. UNITED NATIONS UNIVERSITY. 2015. Characteristics of the Vietnamese business environment Evidence from a SME survey in 2015. Retrieved September 20, 2019, from UNITED NATIONS UNIVERSITY. 2015. Viet Nam SMEs database. Retrieved October 25, 2018, from Uzkurt, C., Kumar, R., Kimzan, H. S., & Sert, H. 2012. The impact of environmental uncertainty dimension on organizational innovavtiveness An empirical study on SMEs. International Journal of Innovation Management, 162, 1-23. The "environmental pollution-economic development" circle is a problem in the process of national sustainable development. As a complex concept of environmental protection and technology innovation, green technology innovation is the key to cracking this strange circle. This paper divides green technology innovation into green product innovation and green process innovation and measures green technology innovation based on the perspective of energy saving and emission reduction. Furthermore, we examine the effects of environmental regulation and government R & D funding on green technology innovation. The empirical findings are as follows 1 from the dynamic point of view, we test whether there is a significant "U-shaped" relationship between environmental regulation and green technological innovation, and we find there exists an "inflection point" in the role of environmental regulation in green technology innovation, and China is at the stage of inhibition before the "inflection point"; 2 direct government funding and tax incentives can promote green technology innovation, but the promotion of government tax incentives to green technology innovation is not significant; 3 the interaction between environmental regulation and government R & D will promote green product innovation and inhibit green process innovation, which is closely related to the imbalance of environmental regulation intensity in energy saving and emission reduction. In addition, this paper also gives out three kinds of control variables the level of regional development, the proportion of the regional manufacturing industry, and the development level of regional export-oriented economy and presents their effects on green technology The purpose of this study is to assess the effect of technological, organizational and environmental factors on innovation ambidexterity and its influence on the performance of manufacturing small- and medium-sized enterprises SMEs as well as the moderating effect environmental dynamism on this relationship. Design/methodology/approach Drawing on the Technology–Organization–Environment theory and the Knowledge-Based View, this paper develops an integrative research model, which analyzes the network of relations using covariance-based structural equation modeling on a data set of 429 Spanish SMEs. Findings The results show that information technology capability, knowledge management capability and environmental dynamism are positively associated with innovation ambidexterity. In addition, environmental dynamism is found to strengthen the positive effect of innovation ambidexterity on firm performance. Practical implications The study findings support the idea that innovation can be developed in an ambidextrous manner within a single SME as long as the firm is capable of creating a suitable organizational context and giving a prompt response to changes in the business environment. Originality/value Although many studies have highlighted that being ambidextrous is more challenging for SMEs than for their larger counterparts, the vast majority of studies has been conducted in large companies. This paper extends prior literature by analyzing antecedents and outcomes of innovation ambidexterity in manufacturing LiangAnita M. M. LiuThis study explores the dynamics of a government sponsored collaboration network concerning the development of solar photovoltaics PV technologies in China, and investigates the effect of network evolution on the subsequent innovation performance of network actors. Network structure characteristics and attribute proximity variables are jointly examined through a bibliometric methodology based on scientific publication and patent data. In addressing the evolution of the government sponsored collaboration network, this study has identified that actors are more likely to engage in collaboration with prior partners, partners of direct & indirect partners, and partners with similar attributes. These collaboration patterns, in turn, negatively impact direct ties and network efficiency, and increase the attribute proximity of an actor's network. On the other hand, the estimation results indicate that direct ties have an inverted U-shaped effect on innovation performance, while indirect ties are found to be positively related to innovation performance. As expected, a positive effect of network efficiency is found on innovation performance. The results of attribute proximity variables suggest geographical proximity is negatively related to innovation performance. Taken together, the collaboration patterns in the government sponsored network might have a negative impact on innovation performance of network actors. The empirical findings extend the network literature that collaboration network matters differently in different research contexts, and it is no longer appropriate to simply assume that collaboration is purely a good thing. As such, special attention should be paid to the network structure and composition in further policy work extends knowledge concerning the relationships among open innovation, innovative performance and government support for innovation within Brazilian firms. Data were obtained from two different firm samples Sample A, on incremental innovation, and Sample B, on radical innovation. The main research results are as follows. First, in considering government support for innovation, Sample B, based on radical innovation, played a superior and stronger role than Sample A. Secondly, for both samples, the cooperation of external firms has a positive effect on firms' innovative performance, which was positively controlled by the size of the firms. Thirdly, in general, radical innovation requires synergy and a more intense focus regarding the constructs considered therein. This work also adds value in methodological terms, as this is the first research to have tested different models of samples with different levels of radicalism in innovations are seen as means to optimize the efficient and clean use of vital resources in social-biological-economic systems. However, partial theoretical perspectives and experiences of their effects can lead to significant oversight of their potential and limitations. There is a need to manage technological innovations for sustainable growth from a holistic perspective, systemically and systematically. To do so, we present and validate an ontological framework, map the current body of knowledge, and identify the emphases and gaps in the domain. The ontological framework is constructed from the common terminology of the domain. The analysis is based on a map of 375 research papers published in the most prestigious journals relevant to the domain. The results show significant gaps in the research to fulfil the potential. Future research can be directed to fill these RangusAlenka SlavecThis paper investigates the relationship between organizational characteristics and firm's innovation and business performance. Specifically, we examine how decentralization, absorptive capacity, and employee involvement in light of the open innovation literature impact firm's innovation, which in turn affects business performance. We test the proposed model on a large sample of 421 manufacturing and service firms and find decentralization being positively connected to employee involvement, absorptive capacity, and firm's innovation performance. Moreover, the results show that employee involvement and absorptive capacity mediate the relationship between decentralization and firm's innovation performance. The results also suggest that firm's innovation performance positively influence firm's business performance. Implications for managers and future research are AzadeganPankaj C. PatelVinit ParidaSlack can act as a double-edged sword. While it can buffer against environmental threats to help ensure business continuity, slack can also be costly and reduce profitability. In this study we focus on operational slack, the form related to the firm's production processes. We investigate the role of operational slack on firm survival during its venture stage when its survival is significantly challenged by environmental threats. Specifically, we explore how change in three types of environmental uncertainty, namely dynamism, complexity, and lack of munificence, affect the relationship between operational slack and venture survival. Results suggest that with an increase in environmental uncertainty, operational slack lowers the likelihood of venture Uzkurt Rachna KumarHalil Semih KimzanHanife SertThe purpose of this study is to examine the effects of factors of environmental uncertainty on the innovativeness of small and medium enterprises SMEs. Innovativeness is widely accepted as an important characteristic for firm competitiveness and it has been studied by both researchers as well as business managers. Environmental uncertainty is a measure of the complexity of changing external forces faced by an organisation and it crucially impacts the responses of organisations in order to stay competitive. Based on approaches in existing literature, this study conceptualises environmental uncertainty comprised three separate dimensions — competitive intensity, market/demand turbulence, technological turbulence. Data for the study were collected from 156 SMEs in Turkey. SMEs are regarded as an important ingredient in the economic growth of nations and especially so in developing nations such as Turkey. The findings of the study reveal that market/demand turbulence and technological turbulence have a positive effect on the innovativeness of SMEs. Interestingly and contrary to popular belief, competitive intensity was not found to have significant effect on an SME's innovativeness. The implication of the results from this research is that the degree of organisational innovativeness for SMEs tends to increase and therefore should be supported in environments with greater technological and market/demand turbulence. This research makes an important contribution to the developing body of innovation literature and provides directions for managers and researchers in influencing innovativeness of firms.
HNMO - Hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới năm 2023, sáng 2-6 tại Hà Nội, Trung tâm Chứng nhận chất lượng và Phát triển doanh nghiệp thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức diễn đàn Phát triển kinh tế với chủ đề “Đổi mới công nghệ, chuyển đổi số - Bảo vệ tài nguyên và môi trường”. Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam Phan Xuân Dũng phát biểu khai mạc. Phát biểu khai mạc diễn đàn, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam Phan Xuân Dũng nêu rõ Thời gian qua, các biến động phức tạp về địa chính trị kinh tế thế giới đã và đang ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế nước ta cũng như hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Đảng và Nhà nước đã chủ động chỉ đạo, ban hành nhiều cơ chế, chính sách kịp thời, nhằm giữ vững ổn định kinh tế, kiểm soát lạm phát… Mặc dù vậy, tình hình sản xuất, kinh doanh thời gian tới dự kiến tiếp tục gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, xu hướng kinh tế xanh, kinh tế số, Cách mạng công nghiệp đang diễn ra mạnh mẽ; các cam kết của Việt Nam khi tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu COP26; vấn đề thuế các bon... đang đặt ra yêu cầu cho các doanh nghiệp Việt Nam cần phải đổi mới để bắt kịp xu thế mới nếu không sẽ bị giảm sức cạnh tranh và bị mất cơ hội tiến sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Trong bối cảnh đó, đổi mới công nghệ và chuyển đổi số là yếu tố “sống còn” của các doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh; giúp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Các đại biểu tham gia diễn đàn Phát triển kinh tế với chủ đề “Đổi mới công nghệ, chuyển đổi số - Bảo vệ tài nguyên và môi trường”. Tại diễn đàn, các đại biểu đã thảo luận một số chính sách của Nhà nước đối với các hoạt động của doanh nghiệp gắn với đổi mới sáng tạo, bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường để phát triển bền vững. Đồng thời, tiếp nhận và giải đáp những thắc mắc, khó khăn của cộng đồng doanh nghiệp để việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường trở thành động lực phát triển bền vững trong tương lai. Ban tổ chức đã trao chứng nhận, biểu trưng cho các đơn vị doanh nghiệp đạt tiêu chí tại 3 hạng mục Top doanh nghiệp tiên phong đổi mới công nghệ - Bảo vệ tài nguyên và môi trường; Top sản phẩm thân thiện với môi trường; Thương hiệu - Nhãn hiệu uy tín hội nhập kinh tế quốc tế. Các doanh nghiệp tiêu biểu nhận biểu trưng. Phát động từ trung tuần tháng 2-2023, diễn đàn Phát triển kinh tế với chủ đề “Đổi mới công nghệ, chuyển đổi số - Bảo vệ tài nguyên và môi trường” đã lan tỏa sâu rộng và tạo sức hút lớn đối với cộng đồng các doanh nghiệp Việt Nam tại các tỉnh, thành phố trong cả nước. Chương trình đã góp phần không nhỏ trong việc tuyên truyền, phổ biến chính sách và pháp luật về bảo vệ tài nguyên môi trường; khuyến khích áp dụng khoa học - công nghệ để cải tiến kỹ thuật, tiết kiệm tài nguyên, bảo đảm môi trường xanh, bền vững cho doanh nghiệp; quảng bá hình ảnh góp phần nâng cao vị thế của doanh nghiệp và thương hiệu của sản phẩm đến với người tiêu dùng...
Môi trường vĩ mô bao gồm tất cả mọi lực lượng tạo ra các cơ hội, mối đe dọa đối với doanh nghiệp, bất kể lĩnh vực hoặc khu vực địa lý mà họ hoạt động. Yếu tố này gây tác động lớn tới các hoạt động của doanh nghiệp. Như vậy, môi trường vĩ mô bao gồm những yếu tố nào? Đặc điểm và vai trò của nó ra sao? Hãy cùng DNSE tìm hiểu điều đó qua bài viết dưới đây nhé! Tìm hiểu về môi trường vĩ môMôi trường vĩ mô là gì? Môi trường vĩ mô đề cập đến các yếu tố nguồn lực và thể chế bên ngoài, có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến hoạt động marketing và kinh doanh của doanh nghiệp. Chúng bao gồm yếu tố về nhân khẩu, kinh tế, tự nhiên, công nghệ, chính trị, văn hóa,… Chẳng hạn, đại dịch Covid-19 vừa qua đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế toàn cầu, từ đó tác động đến các hoạt động marketing, kinh doanh của doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp bước vào ngõ cụt phá sản, mặt khác cũng có nhiều doanh nghiệp “ăn nên làm ra” trong giai đoạn trên. Như vậy, đại dịch Covid-19 hay nói rộng hơn là môi trường vĩ mô đã có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến doanh nghiệp. Tuy nhiên, các doanh nghiệp sẽ không thể tác động hay làm giảm sự ảnh hưởng này. Các yếu tố và thành phần chủ yếu Môi trường nhân khẩu Môi trường nhân khẩu bao gồm các yếu tố liên quan đến con người như dân số, độ tuổi, giới tính, tôn giáo, nghề nghiệp, mật độ dân số, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân,… Lý do tại sao môi trường nhân khẩu có vai trò quan trọng trong môi trường vĩ mô là do “tổng thể nhu cầu của người dân là lý do tồn tại của doanh nghiệp”. Nói cách khác, con người là động lực thúc đẩy sự phát triển của thị trường. Thông qua ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp, môi trường tại khu vực mà công ty hoạt động sẽ ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng, nội dung truyền thông của doanh nghiệp, cách tiếp cận và lựa chọn khách hàng mục tiêu,… Môi trường kinh tế Môi trường kinh tế bao gồm một số yếu tố bản chất và cơ cấu của nền kinh tế, nguồn lực sẵn có, mức thu nhập, tốc độ tăng trưởng GDP, thuế giá trị gia tăng, tỷ lệ lạm phát, trình độ phát triển kinh tế, phân phối thu nhập, các yếu tố sản xuất, chính sách kinh tế, chính sách tiền tệ, điều kiện kinh tế, chính sách tài khóa, tỷ lệ thất nghiệp,… Những yếu tố này đều có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp hoặc cá nhân hiện đang tồn tại trong nền kinh tế đó. Khi nền kinh tế đi xuống, người tiêu dùng có xu hướng tiết kiệm và lựa chọn những sản phẩm vừa đủ cho bản thân và gia đình. Ngược lại, khi nền kinh tế phát triển, người tiêu dùng sẽ có xu hướng mua sắm thoải mái và dễ dàng hơn đối với các sản phẩm và dịch vụ có giá trị cao và đắt tiền. Môi trường tự nhiên Yếu tố tự nhiên trong môi trường vĩ môMôi trường tự nhiên bao gồm môi trường vật chất và tài nguyên thiên nhiên cần thiết. Đây là nguyên liệu đầu vào trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp. Về cơ bản, những thay đổi bất ngờ của môi trường tự nhiên, chẳng hạn như sự thay đổi đột ngột của thời tiết, khí hậu, hoặc thiên tai có thể tác động đáng kể đến hoạt động và chiến dịch của doạnh nghiệp. Ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là các thành phố lớn, nước, không khí và đất đai đang bị ô nhiễm ở mức báo động. Công nghiệp hóa gây ra hiện tượng nóng lên toàn cầu. Sự gia tăng dân số, cách sinh hoạt và xử lý rác thải của con người đã khiến lượng rác thải ra môi trường ngày càng nhiều và không có dấu hiệu dừng lại. Việc các nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức khiến cho hệ sinh thái bị mất cân bằng từ đó gây nên các hiện tượng biến đổi khí hậu, tuyệt chủng ở động vật… Điều này ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh và tiếp thị của doanh nghiệp. Môi trường công nghệ Môi trường công nghệ bao gồm các mô hình ứng dụng hỗ trợ các hoạt động hàng ngày của con người, bao gồm cả đời sống, lao động và sản xuất. Các mô hình ứng dụng này có thể là công cụ, thiết bị, phần mềm, năng lượng,… Môi trường công nghệ là lực lượng định hình cách thức vận hành của thế giới, bao gồm cả các doanh nghiệp. Sự phát triển của công nghệ và những ứng dụng của nó ngày càng cho ra đời những sản phẩm tiên tiến hơn, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng một cách tốt nhất có thể. Ngoài ra, ứng dụng công nghệ còn giúp công ty nâng cao hiệu quả, cải tiến quy trình sản xuất, tiết kiệm nguyên vật liệu và nguồn lao động,… Môi trường chính trị Môi trường chính trị sẽ bao gồm các thể chế, luật pháp và các quy tắc đạo đức do chính phủ và nhà nước đặt ra. Nền chính trị của một quốc gia sẽ luôn có tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Những điều luật này bao gồm luật lương tối thiểu, luật doanh nghiệp, luật an toàn lao động, luật công đoàn,… Hầu hết các quốc gia sẽ áp dụng một mức thuế suất chung cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên, cũng có một số ngành cần đáp ứng các tiêu chuẩn như cơ sở vật chất, quy trình sản xuất thì mới có thể hoạt động. Ngoài ra, có những nhu yếu phẩm, chẳng hạn như thuốc men và thiết bị y tế, cần phải đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng nhất định trước khi được đưa ra thị trường. Môi trường văn hóa Yếu tố văn hóa trong môi trường vĩ môVăn hóa – Xã hội là một bộ phận quan trọng của môi trường kinh doanh. Xã hội hình thành các chuẩn mực về giá trị, niềm tin, thái độ và nguyên tắc của con người. Đồng thời, môi trường văn hóa bao gồm các yếu tố ảnh hưởng đến các giá trị cơ bản, nhận thức và nhân cách của con người sống trong đó. Những yếu tố văn hóa xã hội này là một trong những yếu tố chính hình thành nên niềm tin, giá trị và cách sống của một cá nhân. Thông qua các yếu tố văn hóa xã hội, doanh nghiệp có thể tác động lên quan điểm, cách nhìn nhận của người tiêu dùng về doanh nghiệp hay những sản phẩm – dịch vụ mà doanh nghiệp đang cung cấp. Đặc điểm của môi trường vĩ mô Môi trường vĩ mô có nhiều đặc điểm khác nhau, một số đặc điểm chính bao gồm Các yếu tố thường tác động, hỗ trợ, bổ sung cho nhau, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động của các tổ chức, doanh yếu tố như môi trường tự nhiên và công nghệ có tác động gián tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh chính của doanh yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến các ngành công nghiệp và các lĩnh vực khác nhau của các tổ chức khác trường vĩ mô ảnh hưởng phần lớn đến hành vi tiêu dùng liên quan đến chi tiêu và đầu trò của môi trường vĩ mô Môi trường vĩ mô ảnh hưởng rất lớn đến sự thành bại của hoạt động kinh doanh. Nó tác động trực tiếp tới hành vi và nhu cầu của khách hàng mục tiêu. Do đó, tất cả các kế hoạch, chiến lược và mục tiêu marketing đều đạt được thông qua các thành phần của môi trường này. Như vậy, mỗi doanh nghiệp luôn phải đưa ra các quyết định và chiến lược dựa trên diễn biến của các thành phần, yếu tố trong môi trường vĩ mô. Lời kết Trên đây là các thông tin, kiến thức hữu ích về môi trường vĩ mô. Hy vọng bạn đã tìm thấy những thông tin cần thiết và có ích cho bản thân. Đừng quên theo dõi và truy cập vào DNSE thường xuyên để không bỏ lỡ bất kỳ kiến thức mới nào nhé!
môi trường công nghệ ảnh hưởng tới doanh nghiệp